>> Ngoài xem bài viết về nội dung Kỹ năng viết đoạn văn 200 chữ (Chém gió nghị luận xã hội) này bạn có thể xem thêm nhiều bài viết liên quan đến các thông tin liên quan đến chủ đề học tập, giáo dục tại đây: Sanotovietnam.com.vn/hoc-tap. Vậy là bạn đã xem xong bài viết chủ đề dàn bài nghị luận xã hội rồi Bạn đang xem: Kỹ năng viết đoạn văn nghị luận xã hội Đề bài xích thưởng thức bàn luận/ Reviews về một vấn đề được đặt ra vào đề hiểu phát âm. Học sinc chỉ rất có thể làm cho giỏi phần nghị luận xã hội Lúc đang gọi thông điệp của văn bản sinh sống đề Vì vậy tôi chọn đề tài "Rèn luyện kĩ năng viết bài nghị luận tác phẩm văn học cho học sinh lớp 9", với mục đích phân tích thực trạng chất lượng bài viết của học sinh hiện nay, đối chiếu với phương pháp giảng dạy của giáo viên, đề ra kinh nghiệm, phương pháp Trong văn nghị luận, yếu tố nghị luận thể hiện ở chỗ: người viết tập trung đưa ra các luận điểm, luận cứ một cách đầy đủ, có hệ thống và hết sức chặt chẽ. Các nội dung, ý lớn, ý nhỏ phải gắn bó phụ thuộc vào nhau, cùng nhau làm bật nổi tư tưởng bài viết. Cùng Phòng GD&DT Sa Thầy đọc bài Đoạn văn nghị luận về kỹ năng sống (4 mẫu). Viết đoạn văn nghị luận về kỹ năng sống mang tới 4 đoạn văn mẫu ngắn gọn, giúp các em học sinh lớp 9 hiểu sâu sắc hơn, có thêm nhiều ý tưởng mới để viết đoạn văn nghị luận về tư Viết đoạn văn tiếng Anh về kỹ năng trở nên độc lập là một trong những chủ đề rất hay dành cho trình độ tiếng Anh cơ bản. Giúp giáo viên kiểm tra được vốn từ vựng cũng như trình độ ngữ pháp của học sinh. TYNra. Cô Nguyễn Thị Hà cho rằng, bước đầu tiên, giáo viên nên cung cấp cho học viên kiến thức cơ bản về những vấn đề của xã hội và các tác phẩm văn học trong chương là điều kiện vô cùng quan trọng cần phải có để giúp học sinh có vốn kiến thức cơ bản vận dụng vào giải quyết các vấn đề trong bài văn nghị dụ Các vấn đề xã hội đang quan tâm hiện nay là gì? Thực trạng các vấn đề đó như thế nào? Cách giải quyết vấn đề ấy ra sao?Hay khi học các tác phẩm văn học trong chương trình, giáo viên cần cung cấp đến học sinh hiểu biết về tác giả, hoàn cảnh sáng tác, những giá trị về nội dung và nghệ thuật, những nhận xét, đánh giá về tác vững kiến thức từng kiểu bài nghị luậnSau khi cung cấp vốn kiến thức cơ bản, cô Hà cho rằng, giáo viên phải đặc biệt chú trọng giúp học sinh những kiến thức về kiểu bài nghị luận cụ đó, bài văn nghị luận cần chú ý vào hệ thống luận điểm và luận cứ cùng với những yêu cầu như sauCác luận điểm, luận cứ phải đảm bảo tính khái quát, tính tiêu biểu, độ chân thật, đúng đắn, toàn điểm, luận cứ phải gắn bó chặt chẽ thành hệ thống, các luận điểm được xây dựng giống như bộ khung cho các đoạn văn nghị luận xoay quanh hệ thống luận điểm, luận cứ tạo ra tính thống nhất của văn bản. Các luận điểm chở thành cốt lõi của bài văn và là linh hồn của bài rèn luyện kĩ năng xây dựng luận điểm, luận cứ, giáo viên cần rèn kĩ cho các em cân nhắc đến từng vai trò, vị trí của mỗi luận điểm, đặt chúng trong mối quan hệ tương quan và sắp xếp theo hệ thống, vị trí quan hệ; cách sắp xếp các luận điểm có quan hệ liên quan đến nghệ thuật, bố cục và nghệ thuật lập luận của văn điểm xuất phát Luận điểm này thường được dùng làm luận điểm ở phần đặt vấn đề nhằm giới thiệu vấn đề đề cập đến trong luận điểm tiếp theo được mở rộng trình bày ở phần thân bài nhằm giải quyết vấn đề, phát triển ý, triển khai các lập luận mà vấn đề cần được giải điểm chính Được sử dụng ở phần kết thúc vấn đề nhằm khẳng định vấn trình làm một bài văn nghị luậnGiáo viên nên tạo lập một quy trình làm văn nghị luận cho học viên nhằm khắc phục cách viết lan man, thiếu định thể, để làm bài văn nghị luận học viên cần có bốn bước theo quy trình như tạo lập các văn bản đó là Tìm hiểu đề, tìm ý, viết nháp và sửa chữa bài. Sau đó tạo lập hoàn chỉnh bài văn, bước cuối cùng kiểm tra bài phần đặt vấn đề đã đề cập trong bài văn nghị luận, hệ thống luận điểm có vai trò lớn, nó như là linh hồn của bài văn. Đây là một vấn đề quan trọng các em phải xác định để tạo lập được trong quá trình tìm hiểu đề, tìm hiểu ý và xây dựng dàn xây dựng được luận điểm sát yêu cầu các em cần bám sát vào nội dung chính để tạo lập luận điểm cho đúng yêu cầu đề tìm kiếm, xác định rõ hệ thống luận điểm để giải quyết một vấn đề, ngay từ thao tác đầu học viên cần xác định được trục cơ bản của bài văn nghị luận; xây dựng hệ thống luận điểm theo phát triển của thời gian hay không gian, theo các mối quan hệ xã hội hay các lĩnh vực khác lời được các câu hỏi này là giáo viên đã rèn cho học viên có hướng để hoàn thành luận đó, giáo viên rèn học sinh biết cách sử dụng các luận cứ kết hợp tốt giữa các lí lẽ và dẫn chứng để làm sáng tỏ những luận điểm bày luận điểm hợp lýTuy nhiên, muốn bài văn hoàn chỉnh, học sinh cần được rèn cách trình bày các luận điểm cho hợp viên cần cung cấp cho học viên quy trình cơ bản khi trình bày luận điểm theo phương pháp Tổng - phân - hợp 3 bước, cụ thểBước 1 Dẫn dắt nêu nội dung của luận điểm thường được thể hiện ở khâu chủ đề. Bước 2 Dùng các luận cứ, lí lẽ, dẫn chứng để phân tích làm sáng tỏ luận điểm. Bước 3 Khái quát, nâng cao luận cục của bài văn nghị luận có vai trò quan trọng trong việc thể hiện khả năng nghị luận của người viết. Vì vậy giáo viên cần cung cấp cho học viên yêu cầu bố cục một bài văn nghị luận thông thường đặc biệt là sắp xếp các luận điểm, luận cứ theo một hệ thống logic chặt lại Giáo viên muốn học sinh làm tốt văn nghị luận cần rèn cho các em tính chịu khó học tập, tích lũy tri thức để có được một kiến thức văn học phong phú, vững văn nghị luận hay vừa phải chinh phục khối óc, vừa chinh phục được trái tim người đọc và phải thấu tình đạt lí, vừa có nội dung tư tưởng cao đẹp lại vừa có tác dụng truyền vậy, người thầy cần phải có năng lực, phẩm chất và đặc biệt là tình yêu môn văn, tình yêu học viên cũng phải luôn đổi mới cách kiểm tra đánh giá, để phát hiện những học viên khá giỏi kịp thời bồi dưỡng. Đặc biệt tìm ra những nguyên nhân học yếu, học kém lập được có kế hoạch và bồi dưỡng đúng đối tượng theo chất lượng môn GD&TĐ Bạn đang xem tài liệu "SKKN Rèn kĩ năng viết đoạn văn nghị luận xã hội khoảng 200 từ cho học sinh lớp 9", để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên1. MỞ ĐẦU Lý do chọn đề tài Văn nghị luận, nhất là nghị luận xã hội chính là tinh hoa của các môn khoa học xã hội. Biết nghị luận là con người biết phán đoán và suy luận, có tư duy logic để trình bày và bảo vệ quan điểm của mình; đồng thời biết phản bác những quan điểm, nhận thức sai lệch một cách thuyết phục. Rõ ràng việc thể hiện, tranh luận và bảo vệ hay bác bỏ các quan điểm là một thước đo quan trọng đối với sự trưởng thành của mỗi con những năm gần đây kiểu văn nghị luận xã hội đã được chú trọng trong các nhà trường trung học. Trước hết văn nghị luận xã hội có vai trò to lớn thúc đẩy nhận thức của học sinh về các vấn đề xã hội, từ hiểu biết, nhận thức đúng đắn đó giúp các em có những hành động chuẩn mực trong ứng xử của cuộc sống. Văn nghị luận trau dồi cho các em sự phát triển lành mạnh về tâm hồn, định hướng những hành vi chuẩn mực, phù hợp đạo đức lối sống của người Việt Nam ta. Bởi vậy văn nghị luận đã trở thành tiêu chí đánh giá đối với học sinh không chỉ trong những bài kiểm tra, thi học sinh giỏi, thi vào lớp 10 và ngay cả thi tốt nghiệp THPT rồi đến kì thi Đại học. Đây là một quy định đối trong khung đề kiểm tra hoặc đề thi. Sự chuyển biến này là cơ hội và cũng là thách thức đối với học sinh. Một thời gian khá dài, làm văn trong nhà trường chỉ tập trung vào nghị luận văn học khiến cho học sinh cảm thấy văn chương xa rời thực tế cuộc sống. Rèn luyện văn nghị luận xã hội giúp học sinh không chỉ hoàn thiện kĩ năng trình bày quan điểm của mình, mà còn cung cấp tri thức vô cùng phong phú về những vấn đề xã hội. Thế nhưng thách thức đặt ra đối với học sinh và giáo viên cũng không phải là nhỏ. Học sinh quá quen với tư duy văn học, kiến thức về xã hội còn hạn chế, tài liệu tham khảo nghị luận xã hội không nhiều, kĩ năng làm bài chưa thuần thục, nhận diện vấn đề chưa tốt, người viết lại phải dùng kiến thức của mình để giải quyết về một vấn đề trong cuộc sống chứ không phải cố định ở một văn bản trong sách giáo khoa... Tất cả những điều đó tạo nên áp lực, gây khó khăn cho học sinh. Như vậy, rèn luyện kĩ năng NLXH cho học sinh sẽ không chỉ nhằm kiểm tra kiến thức tổng hợp về mọi mặt đời sống của học sinh, mà còn nhằm phát triển khả năng tư duy nhận thức vấn đề xã hội đồng thời góp phần rèn giũa, bồi dưỡng phẩm chất nhân cách con người cho các em học sinh. Qua một số giờ dự giờ lên lớp và bản thân tôi trực tiếp ra đề và chấm bài cho học sinh, tôi đã quyết định chọn nghiên cứu đề tài “Rèn kĩ năng viết đoạn văn nghị luận xã hội khoảng 200 từ cho học sinh lớp 9”. Nhằm trao đổi với đồng nghiệp một vài kinh nghiệm, qua đó giúp cho học sinh lớp 9 nắm vững hơn phương pháp làm kiểu bài này, với mong muốn nâng cao chất lượng bài thi, bài kiểm tra và kết quả học tập của các em, đặc biệt là từ đó, giúp cho các em học sinh phát triển khả năng tư duy và nhận thức đúng đắn để hoàn thiện nhân cách của bản thân. Mục đích nghiên cứu Trong những năm qua, bản thân tôi luôn được phân công giảng dạy môn Ngữ văn 9, tôi luôn có ý thức trong việc giảng dạy, đặc biệt đã chú trọng rèn luyện cho học sinh kĩ năng làm bài nghị luận nói chung và bài văn nghị luận xã hội nói riêng, vì đây là một thể loại đang được xem là mới và khó. Nhất là trong cấu trúc đề thi do Sở giáo dục quy định mới nhất năm 2018, quy định tất cả các bài làm của học sinh từ hai tiết trở lên, đến các bài thi học sinh giỏi, đề thi vào lớp 10 đều có văn nghị luận xã hội, dưới dạng một đoạn văn khoảng 200 từ, khác với dạng viết bài văn nghị luận ngắn như trước đây. Từ bài văn ngắn nay yêu cầu chỉ còn đoạn văn, vậy học sinh sẽ làm bài thế nào cho phù hợp với yêu cầu của đề ? Đề tài nghiên cứu của tôi nhằm giúp học sinh biết cách trình bày đoạn văn nghị luận khoảng 200 từ Đối tượng nghiên cứu Xuất phát từ tầm quan trọng và thực trạng của việc làm bài nghị luận xã hội ở trường THCS hiện nay, để tạo tiền đề cho việc học và làm văn của các em ở các bậc học tiếp theo, Nhằm trao đổi với đồng nghiệp một vài kinh nghiệm, qua đó giúp cho học sinh lớp 9 nắm vững hơn phương pháp làm kiểu bài này, với mong muốn nâng cao chất lượng bài thi, bài kiểm tra và kết quả học tập của các em. Phương pháp pháp nghiên cứu Để giải quyết nhiệm vụ mà đề tài đặt ra, tôi sử dụng một số phương pháp như phân tích, khảo sát, nêu ví dụ, so sánh... 2. NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM Cở sở lí luận. Như chúng ta đã biết trong cấu trúc đề thi cấp huyện, cấp tỉnh, hay thi vào THPT môn Ngữ văn những năm hiện nay đều có câu hỏi, yêu cầu học sinh vận dụng kiến thức xã hội và đời sống để viết đoạn văn nghị luận xã hội ngắn khoảng 200 từ khoảng 20 đến 25 dòng. Trước đây là một bài văn nghị luận xã hội ngắn khoảng 300 từ. Căn cứ vào ngữ liệu mở của phần Đọc hiểu, yêu cầu viết đoạn văn, dù hỏi thế nào thì cũng chỉ quy về hai dạng bài. Cụ thể là - Nghị luận về một vấn đề tư tưởng đạo lí. - Nghị luận về một sự việc, hiện tượng đời sống. Học sinh phải biết bám sát vào quy định trên để định hướng ôn tập và làm bài thi cho hiệu quả. Ở kiểu bài nghị luận xã hội, học sinh qua những trải nghiệm của bản thân, trình bày những hiểu biết, ý kiến, quan niệm, cách đánh giá, thái độ...của mình về các vấn đề xã hội, từ đó rút ra được bài học nhận thức và hành động cho bản thân. Để làm tốt khâu này, học sinh không chỉ biết vận dụng những thao tác cơ bản của bài văn nghị luận như giải thích, phân tích, chứng minh, bình luận, so sánh, bác bỏ... mà còn phải biết trang bị cho mình kiến thức về đời sống xã hội . Khi viết đoạn văn nghị luận xã hội nhất thiết phải có dẫn chứng thực tế. Cần tránh tình trạng hoặc không có dẫn chứng hoặc lạm dụng dẫn chứng mà bỏ qua các bước đi khác của quá trình lập luận. Mặt khác với kiểu bài nghị luận xã hội, học sinh cần làm rõ vấn đề nghị luận, sau đó mới đi vào đánh giá, bình luận, rút ra bài học cho bản thân. Thực tế cho thấy nhiều học sinh mới chỉ dừng lại ở việc làm rõ vấn đề nghị luận mà coi nhẹ khâu thứ hai, vẫn coi là phần trọng tâm của bài nghị luận...Vì những yêu cầu trên mà việc rèn luyện giúp cho học sinh có kĩ năng làm tốt một đoạn văn nghị luận xã hội là một việc làm rất cần thiết. Thực trạng vấn đề. - Thực trạng chung Trong chương trình Ngữ văn THCS, đọc văn luôn gắn liền với làm văn tạo nên hai mặt hữu cơ thống nhất. Song nhìn tổng quan, phân môn đọc văn có vẻ được ưu ái hơn so với làm văn. Làm văn có số tiết không nhiều nhưng lại bao gồm cả hai mảng lí thuyết và thực hành, và luôn hướng đến rèn luyện kĩ năng nghị luận văn học song song với nghị luận xã hội. Như vậy thời lượng dành cho rèn luyện kĩ năng nghị luận xã hội trong chương trình lớp 9 còn khá khiêm tốn.chỉ có 4 tiết học. Những kì thi quan trọng trong đời học sinh từ thi học kì, thi học sinh giỏi đến thi THPT quốc gia... đều có bài nghị luận xã hội. Và quan trọng hơn là nghị luận xã hội tuy chiếm tỉ trọng điểm thấp hơn trong các kì thi phổ thông, nhưng lại rất cần thiết với cuộc đời của mỗi con người. Văn nghị luận, nhất là nghị luận xã hội chính là tinh hoa của các môn khoa học xã hội. Biết nghị luận là con người biết phán đoán và suy luận, có tư duy logic để trình bày và bảo vệ quan điểm của mình; đồng thời biết phản bác những quan điểm, nhận thức sai lệch một cách thuyết phục. Rõ ràng việc thể hiện, tranh luận và bảo vệ hay bác bỏ các quan điểm là một thước đo quan trọng đối với sự trưởng thành của mỗi con người. Như vậy, rèn luyện kĩ năng nghị luận xã hội cho học sinh sẽ không chỉ nhằm kiểm tra kiến thức tổng hợp về mọi mặt đời sống của học sinh mà còn nhằm phát triển khả năng tư duy và phẩm chất nhân cách con người. Nghị luận xã hội quan trọng như thế nhưng trong trong thực tế, việc rèn luyện kĩ năng nghị luận xã hội cho học sinh vẫn chưa tương xứng với tầm của nó. Những tác giả nghiên cứu sâu về làm văn lại thiên về lí thuyết, hàn lâm; những giáo viên gần với thực tiễn làm văn của học sinh lại thiếu sự khái quát, hệ thống về những vướng mắc, những lỗi kĩ năng thường gặp của học sinh. Vì vậy cần có những tìm hiểu sâu hơn về thực trạng và những lỗi học sinh thường mắc khi làm bài văn nghị luận xã hội. Từ đó đưa ra những định hướng, chỉ dẫn để học sinh biết cách nghị luận xã hội thiết thực, hiệu quả hơn trong những kì thi trước mắt và trong cuộc đời lâu dài về sau. - Thực trạng riêng Thực trạng học và làm bài văn nghị luận nghị luận xã hội đang là một vấn đề được quan tâm trong các trường Trung học cơ sở nói chung và trường THCS Lê Hữu Lập nói riêng. Theo thống kê và theo dõi kết quả thi học, kì, thi học sinh giỏi, thi vào THPT của mấy năm gần đây thì chất lượng làm bài môn Ngữ văn của học sinh đã có sự tiến bộ rõ rệt. Tuy nhiên phần điểm bị trừ trong bài lại rơi vào phần văn nghị luận xã hội. Nguyên nhân chính là do cách diễn đạt của các em chưa được tốt. Các ý còn chung chung, chưa cụ thể và rõ ràng, kiểu nghị luận này yêu cầu học sinh phải vận dụng kiến thức thực tế thì các em lại chưa có. Nhiều em còn mắc các lỗi về dùng từ, diễn đạt...có em còn xác định sai đề, dẫn đến sai kiến thức cơ bản do suy diễn cảm tính, suy luận chủ quan hoặc tái hiện quá máy móc dập khuôn trong tài liệu, thậm chí có chỗ “râu ông nọ cắm cằm bà kia” nhầm nghị luận về tư tưởng đạo lí sang nghị luận về sự việc hiện tượng đời sống... Sở dĩ chất lượng phần văn nghị luận xã hội còn chưa đạt yêu cầu như vậy là do nhiều nguyên nhân. - Về giáo viên Mặc dù trong những năm gần đây, hầu hết giáo viên đã nắm chắc được cấu trúc của các đề thi học sinh giỏi và thi vào lớp 10, một phần không thể thiếu là câu hỏi liên quan đến kiểu bài nghị luận xã hội, thế nhưng một số giáo viên vẫn cho rằng câu hỏi chỉ chiếm tỉ lệ điểm trong bài khoảng 20% số điểm nên chưa tập trung nhiều để hướng dẫn học sinh, khiến kiến thức cơ bản học sinh nắm chàng màng. Tư tưởng học sinh làm bài lại chỉ chăm chú đến phần nghị luận văn học mà không nghĩ rằng đây là phần dễ đạt điểm tối đa. Hơn nữa lâu nay có khá nhiều học sinh và ngay cả thầy cô cứ nghĩ rằng văn hay là câu chữ phải “bay bổng”, phải “lung linh”, nghĩa là dùng cho nhiều phép tu từ, nhiều từ “sang”, nhiều thuật ngữ “oách” mà quên rằng văn hay là sự chân thực, sự giản dị, tức là nói những điều mình nghĩ và nói bằng ngôn ngữ bình thường, không cao giọng, không uốn éo làm duyên. - Về học sinh. Trong những năm gần đây học sinh không hứng thú muốn học môn Ngữ văn, nhất là ngại viết những bài văn hay đoạn văn dài. Có lẽ ngoài nguyên nhân khách quan từ xã hội, thì một phần cũng do làm văn khó, lại mất nhiều thời gian, “công thức” làm văn cho các em lại không hình thành cụ thể. Các em không phân biệt rõ các thao tác nghị luận chính mà mình sử dụng. Kĩ năng tạo lập văn bản của học sinh ở ngay trong trường THCS Lê Hữu Lập còn nhiều em làm chưa tốt và rất hiếm có những bài nghị luận có được sức hấp dẫn, thuyết phục bởi cách lập luận rõ ràng, chính xác, đầy đủ và chặt chẽ từng luận điểm, luận cứ... Bài viết của các em khi thì sai về yêu cầu thao tác nghị luận, khi lại không sát, không đúng với nội dung nghị luận của đề bài. Ví dụ đề yêu cầu nghị luận về tư tưởng đạo lí lại làm sang nghị luận về hiện tượng sự việc đời sống. Mặt khác đối với đoạn văn nghị luận xã hội dung lượng quy định chỉ khoảng 200 hoặc gần một trang giấy thi nhiều học sinh vẫn chưa căn được, cứ thế phóng bút viết thậm chí hết nhiều thời gian mà bài lại không cô đọng, súc tích. Một điều nữa mà ta dễ dàng nhận thấy khi dạy kiểu bài này các em đều quan niệm là bài văn “khô khan” nên bài viết chưa có sức hút, chưa lay động được tâm hồn người đọc. Ở bất cứ thể văn nào, khô khan hay hấp hẫn là ở chất lượng. Mà chất lượng một bài văn phụ thuộc vào cảm hứng, kiến thức và các yếu tố có tính kĩ thuật như Cách lập luận, dùng từ, câu... Kết quả khảo sát học sinh khi chưa áp dụng đề tài này vào thực tế giảng dạy như sau Năm học 2017-20178 Lớp Sĩ số Số HS có bài dưới điểm 5 1-> 4điểm Số HS biết cách làm bài ở mức trung bình-khá 5->7điểm Số HS làm bài tốt 8-9 điểm SL % SL % SL % 9B 35 4 11,4 25 71,4 6 17,1 Kết quả trên đây cho thấy nguyên nhân mấu chốt là học sinh phần nhiều chưa biết làm văn nghị luận tốt. Vậy nên việc nâng cao, mở rộng, rèn thêm cho học sinh kĩ năng làm văn nghị luận xã hội là rất cần thiết. Giải pháp và biện pháp thực hiện Các giải pháp thực hiện Để học sinh có kĩ năng viết đoạn nghị luận xã hội tốt. Tôi thực hiện các bước sau a, Làm công tác tư tưởng cho học sinh định hướng Trước hết giáo viên cần phải dập tắt trong các em quan niệm Văn nghị luận là loại văn “khô khan” là chưa hợp lí, vì ở bất cứ thể văn nào, khô khan hay hấp dẫn là ở chất lượng. Tiểu thuyết mà viết dở thì cũng khô khan mà thôi. Chất lượng một bài văn nghị luận phụ thuộc vào cảm hứng, kiến thức và các yếu tố có tính kĩ thuật như cách lập luận, dùng từ, câu....Cảm hứng là yếu tố đầu tiên. Sau là phải có kiến thức Có thể việc hiểu biết về vấn đề cần bàn càng phong phú thì càng dễ cho mình “tung hoành” trong bài viết. Kiến thức phong phú cũng có nghĩa là mình nắm được lẽ phải, giúp cho mình đưa ra những luận điểm chắc chắn, giàu sức thuyết phục, không thể bác bỏ như cố nhân đã tổng kết “Nói phải củ cải cũng nghe”. Trái lại nếu kiến thức nghèo nàn hay sáo rỗng thì bài văn nhạt nhẽo, nặng nề, hô khẩu hiệu. Cần nhớ rằng văn nghị luận là làm sao để người khác “Tâm phục khẩu phục” chứ không phải áp đặt cách hiểu của mình cho người khác. Khi kiến thức đã phong phú thì các yếu tố kĩ thuật của văn bản, về cơ bản sẽ biết sử dụng một cách tự nhiên. Bởi vì một triết gia đã nói “Cái gì được quan niệm rõ ràng thì diễn đạt sẽ mạch lạc”. Việc trau dồi và cẩn trọng trong công tác kĩ thuật thì không bao giờ thừa. Luôn luôn phải cân nhắc, sắp xếp cái nào trước, cái nào sau, chọn đi chọn lại từ nào cho chuẩn xác, sinh động. b, Củng cố và khắc sâu kiến thức chung về yêu cầu trình bày hình thức một đoạn văn - Trình bày đúng hình thức một đoạn văn đầu đoạn viết lùi vào, viết hoa, có dấu chấm hết đoạn, tránh nhầm sang trình bày hình thức một bài văn - Đảm bảo dung lượng đoạn văn 200 chữ. - Đảm bảo bố cục mở đoạn, thân đoạn, kết đoạn. - Học sinh nên trình bày theo hình thức diễn dịch hoặc quy nạp c, Củng cố và khắc sâu kiến thức lí thuyết về văn nghị luận xã hội. Về kiểu bài nghị luận xã hội, Bộ giáo dục và Đào tạo đã quy định trong cấu trúc đề thi năm 2018. Theo đó, học sinh phải vận dụng kiến thức xã hội và đời sống viết đoạn văn nghị luận xã hội khoảng 200 từ đối với học sinh THCS. Vì vậy muốn làm tốt kiểu bài này trước hết giáo viên cần hướng dẫn và yêu cầu học sinh nắm chắc phần lí thuyết thì mới vận dụng tốt trong khi làm bài. Ở phần I Đọc – Hiểu thường gồm có 4 câu hỏi nhỏ, chiếm tỷ lệ 30% số điểm. Từ dữ liệu ở phần I này sẽ là cơ sở để thực hiện một đoạn nghị luận xã hội ở phần II Phần Tập làm Văn, nhưng dù là bàn luận đến nội dung gì thì cũng chỉ có hai dạng bài cụ thể là + Nghị luận về một sự việc, hiện tượng đời sống. + Nghị luận về một vấn đề tư tưởng đạo lí. Học sinh cần bám sát vào quy định trên để định hướng ôn tập và làm bài thi cho hiệu quả. Dạng bài 1 Nghị luận về một sự việc, hiện tượng đời sống. *Khái niệm Nghị luận về một sự việc, hiện tượng, đời sống xã hội là nêu ý kiến của mình, bàn luận, đánh giá của mình về sự việc, hiện tượng ấy. *Yêu cầu - Nội dung Phải trình bày rõ nội dung, bản chất của sự việc,hiện tượng, phải trình bày rõ thái độ, ý kiến của người viết về mặt sai, mặt đúng, mặt lợi, mặt hại của nó. - Hình thức Sự bàn luận, đánh giá phải có luận điểm rõ ràng, được trình bày bằng các luận cứ xác thực, bằng các phép lập luận phù hợp. - Lời văn có sức thuyết phục. * Bố cục Đoạn văn nghị luận về một sự việc, hiện tượng đời sống cũng phải đảm bảo các phần chặt chẽ, mạch lạc theo yêu cầu chung của một đoạn văn nghị luận. - Mở đoạn Giới thiệu sự việc, hiện tượng có vấn đề sẽ bàn luận. - Thân đoạn Phân tích các mặt của sự việc, hiện tượng, trình bày ý kiến, sự đáng giá của mình. - Kết đoạn Khẳng định, phủ định, khái quát ý nghĩa của vấn đề nghị luận. Dạng bài 2 Nghị luận về một vấn đề về tư tưởng đạo lí. * Khái niệm Nghị luận về một vấn đề tư tưởng đạo lí là bàn về một vấn đề thuộc lĩnh vực tư tưởng, đạo đức, lối sống... có ý nghĩa quan trọng đối với cuộc sống của con người. *Yêu cầu - Về nội dung Làm sáng tỏ các vấn đề tư tưởng đạo lí bằng cách giải thích, chứng minh, so sánh, đối chiếu, phân tích...để chỉ ra chỗ đúng hay chỗ sai của một tư tưởng nào đó nhằm khẳng định tư tưởng của người viết. - Về hình thức Đoạn văn phải có bố cục 3 phần rõ ràng, luận điểm đúng đắn, lập luận chặt chẽ, mạch lạc. - Lời văn Rõ ràng, sinh động. * Bố cục Có bố cục chặt chẽ, hợp lí theo yêu cầu chung của một đoạn văn nghị luận. - Mở đoạn Giới thiệu vấn đề tư tưởng, đạo lí cần bàn luận. - Thân đoạn Lần lượt giải thích, chứng minh, phân tích các nội dung của vấn đề tư tưởng, đạo lí đó; đồng thời nêu ý kiến bàn luận, đánh giá của mình. - Kết đoạn Tổng kết, nêu ý nghĩa, bài học của vấn đề nghị luận. Lưu ý Khắc sâu để học sinh nắm được kiến thức của từng kiểu bài là hết sức quan trọng để các em vận dụng tốt trong quá trình làm bài cụ thể. Tuy nhiên làm đoạn văn nghị luận xã hội giáo viên cần hướng dẫn cho học sinh các lưu ý sau Thứ nhất Chú ý đọc kĩ đề bài, xác định dạng đề bài Thứ hai Tăng cường quan sát, cập nhật thông tin Thứ ba Chọn lọc và xử lí thông tin. Các biện pháp cụ thể a Hướng dẫn viết đoạn văn nghị luận về một sự việc, hiện tượng đời sống Cuộc sống đang từng giờ, từng phút trôi qua cùng biết bao thay đổi và biết bao sự kiện. Có thể nói chính những sự việc, hiện tượng đời sống là mảng đề tài hết sức hấp dẫn, phong phú người ra đề lựa chọn các mảng đề tài khác nhau để ra đề như Môi trường, dân số, trẻ em, tệ nạn xã hội.... Để làm tốt dạng đề nghị luận xã hội về sự việc hiện tượng đời sống đang được dư luận xã hội quan tâm, giáo viên cần hướng dẫn học sinh lưu ý. *Làm bài nghị luận về sự việc đời sống. - Yêu cầu về hình thứcTrước đây là bài văn nghị luận nên yêu cầu học sinh trình bày đầy đủ bố cục của đoạn văn, nghĩa là đoạn văn gồm ba phần Mở đoạn, thân đoạn và kết đoạn. Nay yêu cầu chỉ là đoạn văn nên học sinh cần xác học sinh viết đoạn văn theo kiểu nào Diễn dịch, quy nạp hay tổng – phân – hợp. Học sinh nên viết theo kiểu đoạn văn tổng – phân – hợp là hợp lí nhất, chặt chẽ nhất. - Yêu cầu về nôi dung. + Nêu thực trạng của vấn đề. + Biểu hiện – phân tích tác hại. + Nguyên nhân. + Biện pháp khắc phục hướng giải quyết + Ý thức bản thân đối với vấn đề nghị luận. Ví dụ Với nhan đề Môi trường sống của chúng ta. Dựa vào những hiểu biết của em về môi trường, viết một đoạn văn ngắn trình bày quan niệm của em và cách làm cho cuộc sống ngày một tốt đẹp hơn. Nêu vấn đề và triển khai thành đoạn văn nghị luận bao gồm các ý cơ bản sau đoạn Nêu vấn đề nghị luận Môi trường sống của chúng ta thực tế đang bị ô nhiễm và con người chưa có ý thức bảo vệ. đoạn - Biểu hiện. + Xã hội. + Nhà trường. - Phân tích tác hại + Ô nhiễm môi trường làm hại đến sự sống. + Ô nhiễm môi trường làm cảnh quan bị ảnh hưởng. - Đánh giá - Những việc làm đó là thiếu ý thức bảo vệ môi trường, phá hủy môi trường sống tốt đẹp. - Phê phán và cần có cách xử phạt nghiêm khắc. - Hướng giải quyết. - Tuyên truyền để mỗi người tự rèn cho mình ý thức bảo vệ môi trường. - Coi đó là vấn đề cấp bách của toàn xã hội. đoạn Khẳng định lại vai trò của môi trường. *Nghị luận về một hiện tượng đời sống. - Yêu cầu về hình thức Đảm bảo bố cục đoạn văn, diễn đạt có cảm xúc. - Yêu cầu về nội dung cần đảm bảo các ý sau + Giải thích hiện tượng. + Trình bày suy nghĩ của người viết về hiện tượng ấy. + Liên hệ thực tế đời sống. + Nêu tác dụng ảnh hưởng và bài học rút ra. Ví dụ Đề bài “Giữa một vùng sỏi đá khô cằn, có những loài cây vẫn mọc lên và nở những chùm hoa thật đẹp”. Viết một một đoạni văn nghị luận Khoảng 200 từ nêu suy nghĩ của em được gợi ra từ hiện tượng trên. Gợi ý. Với dạng bài này giáo viên có thể hướng dẫn học sinh lập theo ý. *Về hình thức Trình bày thành đoạn văn nghị luận , yêu CHUYÊN ĐỀ KỸ NĂNG VIẾT MỞ BÀI TRONG VĂN NGHỊ LUẬN Nhà văn Nga Macxim Gorki đã từng nói “ Khó hơn cả là phần mở đầu, cụ thể là câu đầu, cũng như trong âm nhạc, nó chi phối giọng điệu của tác phẩm và người ta thường tìm nó rất lâu”. Với yêu cầu đặt ra của việc viết đoạn mở bài một cách nhanh chóng, đảm bảo các yêu cầu chức năng của nó làm cho không ít học sinh cảm thấy khó khăn. * Mục đích Mục đích của mở bài là giới thiệu về vấn đề mà mình sẽ viết, thực chất là trả lời câu hỏi Ở bài viết này, mình định viết về điều gì? * Yêu cầu – Ngắn gọn Phần mở bài quá dài dòng không những khiến học sinh mất thời gian mà còn khiến các em bị cạn kiệt ý tưởng cho phần thân bài. Trong phần này chỉ nên hé mở những gì mình định viết ở phần thân bài. – Đầy đủ Phần mở bài phải nêu được vấn đề cần nghị luận, phạm vi tư liệu, thao tác nghị luận chính. – Độc đáo Phần mở bài phải gây được sự chú ý cho người đọc về vấn đề cần nghị luận bằng cách nêu hoặc có những liên tưởng khác lạ, bất ngờ cho người đọc. Bạn sẽ dễ chiếm cảm tình của người đọc bằng cách này nhất, bởi nó làm bạn nổi bật giữa hàng trăm bài văn khác. – Tự nhiên Phần mở bài cũng chỉ nên dùng các ngôn từ giản dị, mộc mạc, tránh sáo rỗng, tránh gượng ép. Bởi điều này sẽ gây cho người đọc cảm giác mơ hồ, khó chịu về sự giả tạo. – Tránh lạc đề Nên nhớ đây là bài thi, nếu phần mở bài của bạn lạc đề thì không những mất điểm mà còn mất luôn cảm tình của người chấm! Cấu trúc của một mở bài Cấu trúc của một mở bài gồm 4 nội dung chính – Dẫn dắt vấn đề Nêu một vài ý liên quan đến luận đề cần bàn, chuẩn bị tư tưởng dẫn dắt người đọc, người nghe vào nội dung bàn luận hay tình huống có vấn đề đặt ra ở đề bài. Điều quan trọng ở phần này là tạo được sự hấp dẫn, thu hút người đọc. VD Liên hệ bông hoa → ong bướm. – Nêu vấn đề Nêu vấn đề một cách ngắn gọn, khái quát và chính xác. Vấn đề mà mở bài nêu ra chính là vấn đề mà nội dung bài viết đề cập tới. – Nêu giới hạn vấn đề Nêu được phạm vi bàn luận trong khuôn khổ tư liệu nào 1 đề tài, 1 tác phẩm hay nhiều tác phẩm… – Nêu thao tác nghị luân chính của bài Phân tích, bình luận, chứng minh, giải thích… – Ngoài 4 nội dung chính vừa nêu trên, cấu trúc của một mở bài có thể có thêm một nội dung phụ, đó là Nêu nhận định về tầm quan trọng của vấn đề, ý nghĩa của vấn đề đối với cuộc sống, xã hội, dòng văn học; với trước đó và đương thời… phần này không nhất thiết phải có, tuỳ thuộc vào từng vấn đề cụ thể. Cách xác định vấn đề Bằng cách đặt và trả lời cho câu hỏi Bài làm cần viết về cái gì? Từ đó xác định trọng tâm kiến thức cần nêu. Hãy dùng bút tô đậm những từ chìa khóa trong đề ra và lấy đó làm từ trọng điểm cho phần mở bài của mình. Xác định vấn đề bàn luận là điều căn bản cốt yếu nhất vì nếu xác định sai thì coi như toàn bộ nội dung bài viết sẽ chệch hướng hoàn toàn, như vậy nghĩa là lạc đề. Muốn xác định được vấn đề thì phải tìm hiểu kỹ đề bài. Thông thường đề bài có hai dạng * Dạng nổi Lộ thiên Dạng nổi là dạng đề mà các yêu cầu về nội dung, hình thức, cách thức, phương hướng, phạm vi, mức độ nghị luận được nêu ra trực tiếp và rõ ràng trong đề bài. Ở đề bài này vấn đề cần bàn luận đã có sẵn. Ví dụ 1 Vai trò của biển với đời sống nhân loại. Vấn đề trọng tâm đã được nói rõ ở đề bài đó là khẳng định vai trò quan trọng của biển đối với sự tồn tại và phát triển của nhân loại. Ví dụ 2 Tình yêu với biển đảo quê hương của thanh niên Việt Nam. Vấn đề cần tìm đã rất rõ ràng, đó là tình yêu biển đảo của thanh niên Việt Nam. Lưu ý Nhiều khi đề có đoạn dẫn rất dài, hãy chú ý đọc kỹ để tìm vấn đề được chỉ rõ ngay trong đề. Ở những trường hợp này nhiều đề bài sau khi nêu nội dung đoạn trích thơ, văn hoặc nhận định thường có yêu cầu thí sinh phải làm rõ điều gì đó. Đấy chính là vấn đề cần lý giải. Ví dụ Hãy phân tích đoạn Mỵ ở nhà thống lý Pá Tra để thấy được nỗi đau và sức sống tiềm tàng của người phụ nữ mèo vùng Tây bắc. Vấn đề đã rất rõ Thể loại phân tích vấn đề để nêu bật 2 nội dung đề yêu cầu Nỗi đau khổ và sức sống tiềm tàng của nhân vật Mỵ. * Dạng chìm Dạng chìm là dạng đề trong đó người ra đề không cho dữ kiện rõ về các yêu cầu của nội dung cũng như cách thức, phạm vi… nghị luận. Bởi thế người viết phải phân tích, tổng hợp, khái quát nội dung vấn đề từ chính nội dung của đoạn văn, đoạn thơ, hoặc tác phẩm, câu trích… Ví dụ Biển đảo quê hương hôm nay với thanh niên Việt Nam. Đề bài đưa ra một vấn đề “nóng” hiện nay, để làm rõ vấn đề cần có suy nghĩ Biển đảo quê hương hôm nay có vấn đề gì? Vì sao phải đặt vấn đề đó hôm nay? Trách nhiệm của thanh niên với biển đảo… Chú ý Học sinh khi đọc đề cần xác định thật rõ ràng những yêu cầu của đề theo hướng – Về nội dung, cần xem yêu cầu vấn đề cần nghị luận có giới hạn ở đâu? Giai đoạn nào? Tác phẩm hay đoạn nào? Đề tài gì? Chủ đề gì? – Về hình thức, cần quan tâm đến kiểu bài mà đề yêu cầu Phân tích, bình luận, bình giảng… hay đi kèm 2 kiểu bài hoặc tổng hợp các kiểu? Các cách mở bài – Mở bài trực tiếp có hai cách Mở thẳng vấn đề và mở trực tiếp có thêm phần dẫn dắt thời gian, không gian và hoàn cảnh sáng tác của tác phẩm. – Mở bài gián tiếp Mở bằng câu chuyện, mở bằng cách nêu câu hỏi, mở bằng cách nêu sự kiện, con số…. GS Nguyễn Đăng Mạnh tổng kết “Các cách mở bài khác nhau chủ yếu ở phần dẫn dắt. Phần nêu vấn đề và phần giới hạn vấn đề thường không thay đổi, viết mở bài theo kiểu gì thì ai cũng phải nêu được phần này. Nói gọn lại cứ thay đổi phần dẫn dắt ta sẽ có một mở bài mới”. Một số mẫu mở bài ứng dụng từ thực tế Đặt vấn đề mở bài trực tiếp – trực khởi * Mở thẳng vấn đề – Dẫn dắt ngắn gọn bằng câu văn liên quan trực tiếp tới vấn đề. – Nêu rõ vấn đề định bàn luận. – Nêu giới hạn vấn đề. Ví dụ Phân tích nhân vật Mỵ trong “Vợ chồng A phủ ” của Tô Hoài. Mở bài Mỵ là nhân vật trung tâm trong tác phẩm “Vợ chồng A phủ ” 1. Hình ảnh Mỵ là hình ảnh của người phụ nữ Mèo đầy bi kịch trong xã hội thực dân phong kiến miền núi, nhưng đồng thời trong Mỵ tiềm ẩn sức sống mạnh mẽ vươn dậy làm chủ số phận của mình, đặc biệt khi gặp ánh sáng Đảng soi đường 2. Để thấy rõ điều này chúng ta cùng đi vào phân tích nhân vật Mỵ trong tác phẩm “Vợ chồng A Phủ” của nhà văn Tô Hoài 3. Phân tích Bài làm trên thực hiện giới thiệu luôn vấn đề Mỵ là nhân vật trung tâm trong câu 1 và xác định giới hạn nghị luận đó là bi kịch và sức sống tiềm tàng của Mỵ câu 2, phạm vi tư liệu và thao tác nghị luân chính trong bài viết câu 3. * Mở trực tiếp có thêm phần dẫn dắt – Dẫn dắt bằng cách nêu bối cảnh làm vấn đề xuất hiện như thời gian, không gian, địa điểm xảy ra sự kiện liên quan đến tác phẩm/vấn đề; xuất xứ của tác phẩm văn học…. – Nêu rõ vấn đề định bàn luận. – Nêu giới hạn vấn đề. Ví dụ, với đề bài trên ta thêm câu dẫn để thành MB mới như sau Một trong những thành công của tác phẩm “Vợ chồng A Phủ” là nghệ thuật xây dựng nhân vật, trong đó tiêu biểu là nhân vật người phụ nữ miền núi. Mỵ là nhân vật trung tâm trong tác phẩm “Vợ chồng A phủ ”. Hình ảnh Mỵ là hình ảnh của người phụ nữ Mèo với số phận đầy bi kịch trong xã hội thực dân phong kiến miền núi, nhưng đồng thời trong Mỵ cũng tiềm ẩn sức sống mạnh mạnh mẽ vươn dậy làm chủ số phận của mình, đặc biệt khi gặp ánh sáng Đảng soi đường. Để thấy rõ điều này chúng ta cùng đi vào phân tích nhân vật Mỵ trong tác phẩm “Vợ chồng A Phủ” của nhà văn Tô Hoài. * Ưu điểm và hạn chế của cách mở bài này – Ưu điểm + Đi thẳng ngay vào bài nên tránh được sự lan man, xa đề hoặc lạc đề. + Dễ vận dụng đối với các học sinh có kỹ năng lập luận yếu. +Tiết kiệm được thời gian suy nghĩ cho người viết. – Hạn chế Ít tạo được ấn tượng lôi cuốn người đọc. Đặt vấn đề mở bài theo cách gián tiếp – lung khởi Theo kết luận của GS Nguyễn Đăng Mạnh, có thể rút ra kết luận bản chất của một mở bài hay hoặc không hay theo lối viết mở bài gián tiếp phụ thuộc hoàn toàn vào cách dẫn dắt. Và đây chính là những lời mở đầu sớm nhất của mở bài, nó thường gây khó khăn cho học sinh. Dưới đây chúng tôi trình bày một số cách mà học sinh dễ áp dụng và đạt hiệu quả cao. Học sinh chỉ việc sử dụng theo công thức 1 Đoạn dẫn + 2 Nêu vấn đề + 3 Giới hạn vấn đề + 4 Thao tác nghị luận chủ yếu + 5 Nhận định về tầm quan trọng của vấn đề, ý nghĩa. Lưu ý Sau đoạn dẫn thì 4 nội dung còn lại không nhất thiết phải xếp theo trình tự như đã nêu trên. 1 Đoạn dẫn mở bài theo tư liệu tác giả Yêu cầu Nêu tên tác giả, vị trí tác giả trong nền văn học hoặc phong cách, đề tài tiêu biểu, tác phẩm tiêu biểu. VD thêm đoạn dẫn vào ví dụ trên để có 1 mở bài gián tiếp theo cách 1. Tô Hoài là một tác giả văn học nổi tiếng từ trước cách mạng tháng 8 và đồng thời cũng là nhà văn tiêu biểu của nền văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa. Trong số rất nhiều tác phẩm giá trị của ông có tập “Truyện Tây Bắc” mà trong đó ấn tượng nhất vẫn là “Vợ chồng A phủ”. Mỵ là nhân vật trung tâm trong tác phẩm “Vợ chồng A Phủ ”. Hình ảnh Mỵ là hình ảnh của người phụ nữ Mèo đầy bi kịch trong xã hội thực dân phong kiến miền núi, nhưng đồng thời trong Mỵ tiềm ẩn sức sống mạnh mạnh mẽ vươn dậy làm chủ số phận của mình, đặc biệt khi gặp ánh sáng Đảng soi đường. Để thấy rõ điều này chúng ta cùng đi vào phân tích nhân vật Mỵ trong tác phẩm “Vợ chồng A Phủ” của nhà văn Tô Hoài. 2 Đoạn dẫn mở bài theo lối quy nạp Yêu cầu Tìm một vấn đề mang tính chất chân lý là tiền đề để khẳng định vẫn đề. VD thêm đoạn dẫn vào ví dụ trên để có 1 mở bài gián tiếp theo cách 2. Thời gian không ngừng trôi và bốn mùa luân chuyển. Con người chỉ xuất hiện một lần trong đời và cũng chỉ một lần ra đi mãi mãi vào cõi vĩnh hằng. Nhưng những gì là thơ, là văn, là nghệ thuật đích thực… thì vẫn còn mãi mãi với thời gian. “Vợ chồng A Phủ” của Tô Hoài là một tác phẩm nghệ thuật như thế. Một trong những lý do làm cho tác phẩm sống mãi là nhà văn đã xây dựng thành công nhân vật Mỵ. Mỵ là nhân vật trung tâm trong tác phẩm “Vợ chồng A Phủ”. Hình ảnh Mỵ là hình ảnh của người phụ nữ Mèo đầy bi kịch trong xã hội thực dân phong kiến miền núi, nhưng đồng thời trong Mỵ tiềm ẩn sức sống mạnh mạnh mẽ vươn dậy làm chủ số phận của mình, đặc biệt khi gặp ánh sáng Đảng soi đường. Để thấy rõ điều này chúng ta cùng đi vào phân tích nhân vật Mỵ trong tác phẩm “Vợ chồng A Phủ” của nhà văn Tô Hoài. 3 Đoạn dẫn mở bài theo lối so sánh hai vấn đề tương tự Yêu cầu Tìm 1 vấn đề tương tự đề tài, chủ đề, hình ảnh , tác phẩm… làm cầu nối so sánh với vấn đề của đề bài để tạo đoạn dẫn. VD1 thêm đoạn dẫn vào ví dụ trên để có 1 mở bài gián tiếp theo cách 3. Khi đọc “Mùa lạc” của Nguyễn Khải ta gặp nhân vật Đào, cô gái có quá khứ đau thương nhưng đã trỗi dậy mạnh mẽ khi đón nhận cuộc sống mới và những con người mới. Nhưng đau thương hơn và sự vươn dậy quyết liệt hơn phải kể đến nhân vật Mỵ trong “Vợ chồng A phủ ” của nhà văn Tô Hoài. Mỵ là nhân vật trung tâm trong tác phẩm. Hình ảnh Mỵ là hình ảnh của người phụ nữ Mèo đầy bi kịch trong xã hội thực dân phong kiến miền núi, nhưng đồng thời trong Mỵ tiềm ẩn sức sống mạnh mẽ vươn dậy làm chủ số phận của mình, đặc biệt khi gặp ánh sáng Đảng soi đường. Để thấy rõ điều này chúng ta cùng đi vào phân tích nhân vật Mỵ trong tác phẩm “Vợ chồng A Phủ” của nhà văn. VD2 Đề ra Phân tích bi kịch của nhân vật Chí Phèo trong tác phẩm cùng tên của nhà văn Nam Cao. Có thể mở bài như sau Viết về nỗi khốn cùng của người nông dân Việt Nam trước Cách mạng có lẽ ít ai còn có thể vượt qua được “Tắt đèn” của Ngô Tất Tố, “Bước đường cùng” của Nguyễn Công Hoan. Viết về sự lưu manh tha hóa của con người có lẽ khó còn ai có thể sánh ngang với Nguyên Hồng trong tiểu thuyết “Bỉ vỏ”. Nhưng phải đến khi Chí Phèo ngật ngưỡng bước ra từ trong trang sách của nhà văn Nam Cao người ta mới thấy hết được cái khốn cùng, cái lưu manh, cái bi kịch bất hạnh của con người. Bi kịch sinh ra làm người mà bị xã hội từ chối quyền làm người. 4 Đoạn dẫn mở bài theo lối so sánh hai vấn đề đối lập Yêu cầu Tìm 1 vấn đề đối lập tạo thế bắc cầu để giới thiệu vấn đề cần bàn. VD thêm đoạn dẫn vào ví dụ trên để có 1 mở bài gián tiếp theo cách 4. Chúng ta đã gặp không ít những số phận người phụ nữ bi thương trong các tác phẩm văn học Việt Nam, đó là một nàng Vũ Nương oan khuất, một nàng Kiều bi kịch, một Chị Dậu tủi hờn… Nhưng khi tiếp cận với dòng văn học cách mạng, vẫn những người phụ nữ ngày xưa ấy nay lại trỗi dậy mạnh mẽ đứng dậy làm chủ đời mình. Một trong những nữ nhân vật văn học tiêu biêu biểu là Mỵ trong tác phẩm “Vợ chồng A Phủ” của Nhà văn Tô Hoài. Mỵ là nhân vật trung tâm trong tác phẩm. Hình ảnh Mỵ là hình ảnh của người phụ nữ Mèo đầy bi kịch trong xã hội thực dân phong kiến miền núi, nhưng đồng thời trong Mỵ tiềm ẩn sức sống mạnh mạnh mẽ vươn dậy làm chủ số phận của mình, đặc biệt khi gặp ánh sáng Đảng soi đường. Để thấy rõ điều này chúng ta cùng đi vào phân tích nhân vật Mỵ trong tác phẩm “Vợ chồng A Phủ” của nhà văn Tô Hoài. 5 Đoạn dẫn mở bài dựa vào lời đánh giá ấn tượng của một tác giả. Yêu cầu Lấy 1 đánh giá của một tác giả uy tín có nội dung trùng với vấn đề đã xác định làm điểm tựa để phát triển tiếp. VD thêm đoạn dẫn vào ví dụ trên để có 1 mở bài gián tiếp theo cách 5. Khi nhận định về nhân vật Mỵ, nhà nghiên cứu Trần Đình Sử viết “Mỵ là linh hồn của truyện Vợ chồng A Phủ”. Mỵ là nhân vật trung tâm trong tác phẩm. Hình ảnh Mỵ là hình ảnh của người phụ nữ Mèo đầy bi kịch trong xã hội thực dân phong kiến miền núi, nhưng đồng thời trong Mỵ tiềm ẩn sức sống mạnh mẽ vươn dậy làm chủ số phận của mình, đặc biệt khi gặp ánh sáng Đảng soi đường. Để thấy rõ điều này chúng ta cùng đi vào phân tích nhân vật Mỵ trong tác phẩm “Vợ chồng A Phủ” của nhà văn Tô Hoài. 6 Đoạn dẫn mở bài bằng cách dựa vào xuất xứ và những thông tin khác về tác phẩm Yêu cầu Lấy các thông tin liên quan đến vấn đề sau khi chọn lọc các chi tiết quan trọng, hấp dẫn, bố trí thành đoạn dẫn. VD thêm đoạn dẫn vào ví dụ trên để có 1 mở bài gián tiếp theo cách này. “Vợ chồng A Phủ” in trong tập truyện Tây Bắc 1954. Tập truyện được tặng giải nhất – Giải thưởng Hội văn nghệ Việt Nam 1954 – 1955. Truyện viết về cuộc sống của người dân lao động vùng núi cao, dưới ách thống trị tàn bạo của bọn thực dân phong kiến miền núi. Nổi bật lên là hình tượng nhân vật Mỵ. Mỵ là nhân vật trung tâm trong tác phẩm. Hình ảnh Mỵ là hình ảnh của người phụ nữ Mèo đầy bi kịch trong xã hội thực dân phong kiến miền núi, nhưng đồng thời trong Mỵ tiềm ẩn sức sống mạnh mạnh mẽ vươn dậy làm chủ số phận của mình, đặc biệt khi gặp ánh sáng Đảng soi đường. Để thấy rõ điều này chúng ta cùng đi vào phân tích nhân vật Mỵ trong tác phẩm “Vợ chồng A Phủ” của nhà văn Tô Hoài. 7 Đoạn dẫn mở bài bằng cách liên hệ thực tế Để viết được mở bài bằng cách này chúng ta cần quan sát những sự việc diễn ra trong thực tết cuộc sống rồi lấy đó làm phần dẫn dắt để mở bài. Ví dụ Bình luận về mối quan hệ giữa văn học nghệ thuật và hiện thực cuộc sống. Chứng minh bằng một số tác phẩm văn học. – Mở bài Có ai đó đã ví sáng tạo nghệ thuật như việc thả diều. Con diều dù có bay bổng bao nhiêu vẫn phải gắn với mặt đất bằng một sợi dây vững chắc. Ý tưởng ấy gợi cho ta nhiều suy nghĩ sâu sắc về mối quan hệ giữa văn học và hiện thực cuộc sống. Hãy đến với một số tác phẩm văn học lớn, chúng ta sẽ thấy rõ mối quan hệ máu thịt này. 8 Đoạn dẫn mở bài bằng cách dẫn dắt từ một câu chuyện kể Cách mở bài này là từ một câu chuyện kể chúng ta dẫn dắt vào mở bài. Cũng ví dụ trên ta có mở bài như sau “Thần thoại Hy Lạp” còn để lại một câu chuyện đầy cảm động về chàng lực sĩ Ăngtê và đất mẹ. Thần Ăngtê sẽ bất khả chiến bại khi chân chàng gắn chặt vào lòng đất mẹ Gaia. Có thể ví mối quan hệ giữa văn học và hiện thực cuộc sống hệt như quan hệ giữa Ăngtê và đất mẹ vậy. Chưa tin ư, chúng ta cùng khám phá những tác phẩm văn học lớn để thấy rõ điều này. 9 Đoạn dẫn mở bài gắn với thế hệ các nhà thơ trưởng thành trong cùng một giai đoạn lịch sử Ví dụ Thông qua đoạn một của đoạn trích “Đất Nước” trích trong Trường ca “Mặt đường khát vọng” của Nguyễn Khoa Điềm, anh chị hãy phân tích cảm hứng riêng về đất nước của nhà thơ? Mở bài Cùng với Nguyễn Mỹ, Xuân Quỳnh, Lê Anh Xuân…, Nguyễn Khoa Điềm thuộc thế hệ các nhà thơ trưởng thành trong khói lửa ác liệt của cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước. Nguyễn Khoa Điềm gắn bó sâu sắc với vùng Trị – Thiên, đặc biệt với thành phố Huế quê hương ông. Với những tác phẩm như tập thơ “Đất ngoại ô” và nhất là trường ca “Mặt đường khát vọng”, Nguyễn Khoa Điềm được coi là một nhà thơ giàu cảm xúc và đậm chất trí tuệ, biểu hiện tập trung những suy tư của người thanh niên trí thức nỗ lực đóng góp vào cuộc chiến đấu của dân tộc. Trường ca “Mặt đường khát vọng” được sáng tác vào mùa đông năm 1971 tại chiến trường Trị – Thiên và được in ở miền Bắc vào năm 1974. “Đất Nước” trích gần trọn chương V của trường ca thể hiện khá tập trung những cảm nhận sâu sắc mới mẻ về đất nước của nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm. 10 Đoạn dẫn mở bài xuất phát từ một sự kiện lịch sử Ví dụ 1 Phân tích bài thơ “Việt Bắc” để thấy tình nghĩa thủy chung với ngọn nguồn của cách mạng và của dân tộc qua lối hát giao duyên của dân ca? Mở bài Tháng 10 – 1954, cuộc kháng chiến thần thánh chống thực dân Pháp kết thúc thắng lợi. Từ căn cứ địa cách mạng, Bác Hồ, Trung ương Đảng, Chính phủ trở về Hà Nội. Đáp lại ân tình của đồng bào Việt Bắc đã chở che, đùm bọc cho cách mạng, nhà thơ Tố Hữu đã sáng tác bài thơ “Việt Bắc” theo lối hát giao duyên của dân ca để nói lên tình nghĩa thủy chung của nhân dân ta với ngọn nguồn của cách mạng, của dân tộc. Ví dụ 2 Phân tích vẻ đẹp của tình người và niềm hi vọng vào cuộc sống của các nhân vật Tràng, người vợ nhặt, bà cụ Tứ trong truyện ngắn “Vợ nhặt” của Kim Lân? Mở bài Nạn đói khủng khiếp dữ dội năm 1945 hằn in trong tâm trí Kim Lân. Một nhà văn hiện thực có thể xem là con đẻ của đồng ruộng, một con người có lòng đi về với “những gì thuần hậu nguyên thủy của cuộc sống nông thôn”. Ngay sau Cách mạng, ông bắt tay vào viết tiểu thuyết “Xóm ngụ cư”. Khi hòa bình lập lại 1954, nỗi trăn trở thôi thúc ông viết tiếp thiên truyện ấy. Và cuối cùng truyện ngắn “Vợ nhặt” ra đời. Trong lần này Kim Lân đã thật sự đem đến cho tác phẩm của mình một khám phá mới, một điểm sáng soi chiếu toàn tác phẩm. Đó là vẻ đẹp của tình người và niềm hi vọng vào cuộc sống của những người nông dân nghèo, tiêu biểu như Tràng, người vợ nhặt, bà cụ Tứ. Thiên truyện thể hiện thành công, khả năng dựng truyện, dẫn truyện và đặc sắc nhất là Kim Lân đã có khám phá diễn biến tâm lí nhân vật thật bất ngờ. 11 Đoạn dẫn mở bài xuất phát từ một đề tài quen thuộc. Ví dụ Phân tích bài thơ “Sóng” của nhà thơ Xuân Quỳnh? Mở bài Tình yêu là một đề tài quen thuộc trong thơ ca. Nhưng không phải vì thế mà nó thành đơn điệu và nhàm chán. Mỗi bài thơ, mỗi nhà thơ là một thế giới riêng, một nhu cầu, một khát khao riêng không ai giống ai. Chẳng thế mà ta gặp Xuân Diệu trong thi đàn Việt Nam với chất men say tình yêu nồng nàn, mãnh liệt, người tự cho mình là “kẻ uống tình yêu dập cả môi”, ta gặp Nguyễn Bính “dạt dào với những câu hát đồng quê” chân chất thật thà… và thật bất ngờ khi gặp một nữ sĩ với tâm hồn mãnh liệt và say đắm trong tình yêu – Xuân Quỳnh. Thơ tình yêu của Xuân Quỳnh chân thành nữ tính nhưng không kém phần cháy bỏng, nồng nàn. Điều đó thể hiện rõ nét trong bài “Sóng”. Lưu ý Ưu điểm và hạn chế của cách mở bài này ngược với ưu điểm và hạn chế trong cách mở bài trực tiếp. Khi mở bài theo cách này thì sang phần thân bài học sinh cần có một đoạn văn chuyển ý nêu khái quát về tác giả, tác phẩm, vừa làm cho bài viết uyển chuyển hơn vừa tránh thiếu ý của bài viết. Có hàng trăm cách mở bài khác nhau, trên đây chỉ là vài gợi ý để học sinh có thể chủ động áp dụng. Tóm lại Kết cấu của đoạn mở bài theo cách gián tiếp gồm 3 phần – Mở đầu đoạn + Viết những câu dẫn dắt có liên quan gần gũi với vấn đề chính cần nghị luận. + Tuỳ nội dung vấn đề cần nghị luận mà người viết lựa chọn câu dẫn dắt có thể là một câu thơ, một câu danh ngôn, hoặc một câu chuyện kể… – Phần giữa đoạn + Nêu luận đề nếu bình giảng thơ thì thường là nêu ấn tượng bao trùm mang tư tưởng chủ đề mà bản thân cảm nhận được. – Phần kết đoạn Nêu phương thức nghị luận và phạm vi tư liệu sẽ trình bày. 4. Những lời khuyên với học sinh Trên đây, chúng tôi đã cố gắng tóm lược những vấn đề căn cốt của việc viết mở bài trong văn nghị luận. Học sinh cần đọc kỹ phần 1 trong bài sau đó mới theo ứng dụng tại phần 2. Điều quan trọng nhất là tìm vấn đề định nghị luận là gì? Hãy viết nháp nó ra hoàn chỉnh. Dựa trên bản nháp đó tùy theo sở trường, năng lực, điều kiện của mình, nếu gặp những kiến thức có các dạng gợi ý trên đây, học sinh sẽ thêm vào đoạn dẫn là có một mở bài hoàn hảo. Chuyên đề được sưu tầm. Có chỉnh sửa và lược bớt một số phần Xem thêm tuyển tập những mở bài hay và độc đáo Mở bài mẫu Tiến sĩ Trịnh Thu Tuyết, giáo viên Ngữ Văn tại Hệ thống Giáo dục HOCMAI chia sẻ các kỹ năng viết đoạn văn nghị luận xã hội dành cho sĩ tử sắp bước vào kỳ thi Tốt nghiệp THPT 2020. Theo Tiến sĩ Thu Tuyết, từ kỳ thi THPT Quốc gia 2017, yêu cầu viết bài văn nghị luận xã hội khoảng 600 từ đã thay thế bằng yêu cầu viết đoạn văn nghị luận xã hội khoảng 200 chữ. Đó là thay đổi lớn, kéo theo nhiều vấn đề về kiến thức, kỹ năng trong quá trình ôn luyện và làm bài thí sinh cần lưu ý. Tiến sĩ Trịnh Thu Tuyết, giáo viên Ngữ Văn tại Hệ thống Giáo dục HOCMAI Đặc điểm của dạng đề viết đoạn văn Nghị luận xã hội Để thấy được đặc điểm và yêu cầu của dạng bài viết đoạn văn nghị luận xã hội, trước hết học sinh quan sát lại các đề thi chính thức của những năm gần đây. Đề thi THPT Quốc gia năm 2017 Từ nội dung đoạn trích ở phần Đọc hiểu “Thiện, Ác và smartphone” – Đặng Hoàng Giang, anh/chị hãy viết một đoạn văn khoảng 200 chữ trình bày suy nghĩ về ý nghĩa của sự thấu cảm trong cuộc sống. Đề thi THPT Quốc gia năm 2018 Từ nội dung đoạn trích ở phần Đọc hiểu Đánh thức tiềm lực – Nguyễn Duy, anh/chị hãy viết một đoạn văn khoảng 200 chữ trình bày suy nghĩ về sứ mệnh đánh thức tiềm lực đất nước của mỗi cá nhân trong cuộc sống hiện nay. Đề thi THPT Quốc gia năm 2019 Từ nội dung đoạn trích ở phần Đọc hiểu Trước biển – Vũ Quần Phương, anh/chị hãy viết một đoạn văn khoảng 200 chữ trình bày suy nghĩ về sức mạnh ý chí con người trong cuộc sống. Đề tham khảo thi THPT Quốc gia lần 1/2020 Từ nội dung đoạn trích ở phần Đọc hiểu “Đánh thức con người phi thường trong bạn” – Anthony Robbins, hãy viết một đoạn văn khoảng 200 chữ trình bày suy nghĩ của anh/chị về những hành động nhỏ làm nên người anh hùng giữa đời thường. Đề tham khảo thi Tốt nghiệp THPT lần 2/2020 Từ nội dung đoạn trích ở phần Đọc hiểu “Tất cả chỉ là chuyện nhỏ” – Richard Carlson, anh/chị hãy viết một đoạn văn khoảng 200 chữ về sự cần thiết phải tôn trọng quan điểm của người khác. Quan sát năm đề trên, chúng ta sẽ rút ra nhận xét về những đặc điểm quan trọng của dạng đề viết đoạn văn nghị luận xã hội, cụ thể Từ cấu trúc ngôn từ quen thuộc trong các đề “Từ nội dung đoạn trích ở phần Đọc hiểu…”, nội dung nghị luận có quan hệ hữu cơ với nội dung chính của ngữ liệu đọc hiểu. Đặc điểm này chỉ có từ kỳ thi năm 2017, khi đề bài yêu cầu viết đoạn văn nghị luận xã hội từ một nội dung nào đó trong ngữ liệu đọc hiểu, thay vì bài văn nghị luận xã hội độc lập. Điều này mang đến thuận lợi cho học sinh trong quá trình làm bài khi các em có được những gợi ý quan trọng ngay từ việc suy nghĩ và trả lời các câu hỏi đọc hiểu trước đó. Tuy nhiên, các em cũng cần lưu ý tránh sự trùng lặp ý giữa câu hỏi đọc hiểu và nội dung đoạn văn nghị luận xã hội. Câu lệnh trong đề luôn xác định rõ hai yêu cầu của đoạn văn, trước hết là một trong những yêu cầu về hình thức đoạn văn viết đúng dung lượng theo yêu cầu đặt ra trong câu lệnh của đề bài; sau đó là yêu cầu về nội dung nghị luận, đó là một khía cạnh, một bình diện, một ý nhỏ trong vấn đề lớn. Quan sát 5 đề đã dẫn phía trên, hầu hết nội dung nghị luận đều hướng tới tư tưởng đạo lý – do vậy cần lưu ý thêm dạng đề nghị luận về một hiện tượng xã hội. Ví dụ hiện tượng bạo lực học đường/ hội chứng đám đông/ phong trào thiện nguyện trong xã hội thời hiện đại/ các trào lưu sử dụng mạng xã hội… Những lưu ý về kỹ năng viết đoạn văn Nghị luận xã hội Hình thức đoạn văn. Đoạn văn phải đảm bảo đúng dung lượng theo yêu cầu của đề bài, thông thường là 200 chữ khoảng 20 tới 23 dòng, tránh viết quá dài hoặc quá ngắn. Đoạn văn có thể tùy ý lựa chọn các cấu trúc song hành, móc xích, quy nạp, diễn dịch hay tổng phân hợp… nhưng phải đúng cấu trúc đoạn văn Không xuống dòng giữa đoạn; đoạn văn bắt đầu bằng chữ cái viết hoa và lùi vào một chữ ở đầu dòng và kết thúc bằng dấu ngắt câu – có thể là dấu chấm, chấm than, ba chấm hoặc chấm hỏi tùy theo kiểu câu phù hợp với nội dung kết đoạn. Lưu ý về yêu cầu quan trọng với nội dung đoạn văn. Để xác định đúng nội dung nghị luận, các em cần phân biệt bài văn nghị luận xã hội với đoạn văn nghị luận xã hội. Nếu bài văn nghị luận về một vấn đề chủ đề – ý lớn trong cuộc sống xã hội thì đoạn văn chỉ nghị luận trọn vẹn một khía cạnh của vấn đề tiểu chủ đề – ý nhỏ. Điều các em cần lưu ý là tuyệt đối không triển khai hệ thống ý nghị luận của tổng thể vấn đề khiến đoạn văn trở thành bài văn thu nhỏ. Tuy chỉ nghị luận về một khía cạnh, một bình diện nhỏ trong vấn đề lớn, để nội dung nghị luận trong đoạn văn mạch lạc, khúc chiết, bản thân bình diện tiểu chủ đề ấy cũng phải được triển khai thành hệ thống ý nhỏ hơn. Sau đây là một số gợi ý về việc triển khai hệ thống ý trong đoạn văn mà các em có thể tham khảo – Nếu đề yêu cầu luận về nguyên nhân của quan niệm/ hiện tượng…, có thể triển khai theo các hệ thống ý sau Thứ nhất là nguyên nhân chủ quan/ nguyên nhân khách quan; thứ hai là các nguyên nhân từ gia đình/ nhà trường/ xã hội/ bản thân; thứ ba có thể nguyên nhân từ bản thân mỗi cá nhân với nhận thức, tâm lý, công việc, hoàn cảnh sống… – Nếu đề yêu cầu luận về sự chi phối của một cách sống/ cách nghĩ/ hiện tượng xã hội… tùy theo tính tích cực hay tiêu cực mà câu lệnh có thể dùng từ “ý nghĩa” hay “hậu quả”… Đề thi THPT Quốc gia năm 2017 – “ý nghĩa” sự thấu cảm, đề thi THPT Quốc gia năm 2019 – “sức mạnh” của ý chí, hai đề tham khảo năm 2020 – lần một thiếu từ “ý nghĩa” hành động nhỏ làm nên người anh hùng giữa đời thường. Lần hai “sự cần thiết” phải tôn trọng quan điểm của người khác.…, các em có thể triển khai theo các hệ thống ý sau Thứ nhất là sự chi phối với cá nhân/ cộng đồng xã hội; thứ hai là sự chi phối với tâm lý, tính cách, thân phận con người…; thứ ba là sự chi phối theo thời gian hiện tại và tương lai… – Nếu đề yêu cầu luận về giải pháp thực hiện một cách sống, cách nghĩ… các em có thể triển khai theo các hệ thống ý sau giải pháp từ cá nhân tới cộng đồng; giải pháp xuất phát từ nhận thức đến hành động; giải pháp trước mắt và lâu dài… – Nếu đề yêu cầu trình bày nhiệm vụ/ sứ mệnh/ bài học cho bản thân từ nội dung vấn đề của tư tưởng đạo lý hoặc hiện tượng xã hội… có thể triển khai theo hai ý cơ bản sau Ý thức – hành động Ví dụ đáp án đề Trung học phổ thông Quốc gia năm 2018. Tóm lại, để viết một đoạn văn nghị luận xã hội đúng và hay, trước hết, các em cần xác định chính xác nội dung nghị luận, đó là một khía cạnh của vấn đề trong phần Đọc hiểu, cũng là vấn đề được thể hiện ngay trong cụm từ ngữ phía sau bình diện nghị luận theo yêu cầu, ví dụ “… viết một đoạn văn khoảng 200 chữ trình bày suy nghĩ về ý nghĩa của sự thấu cảm trong cuộc sống” đề năm 2017 thì “sự thấu cảm” là vấn đề, còn “ý nghĩa” là khía cạnh cần nghị luận trong đoạn văn đó. Tiếp theo, phải nghị luận theo hệ thống ý nhỏ hơn rành mạch, khúc chiết; sử dụng văn phong giản dị, trong sáng, cách lập luận chặt chẽ và thuyết phục. Cần nhớ một kinh nghiệm giúp các em thành công trong câu nghị luận xã hội, đó là chân thành trong xúc cảm, trung thực trong suy nghĩ, độc lập với những kiến giải của riêng mình, tránh văn mẫu, đừng bao giờ nghĩ bằng đầu người khác và yêu không phải bằng trái tim mình. Thế Đan Nghị luận xã hội và nghị luận văn học là hai nội dung lớn và xuyên suốt trong hầu hết các đề thi ngữ văn, đặc biệt là kỳ thi tuyển sinh vào lớp 10 và kỳ thi THPT Quốc năng viết văn nghị luậnVì vậy, việc trang bị các kỹ năng cần thiết để viết được một bài văn, một đoạn văn nghị luận là vô cùng quan trọng trong đề thi, cộng cả phần nghị luận xã hội và nghị luận văn học vào có thể lên tới 50-70% tỉ trọng số điểm.Do đó, trong series cẩm nang học tốt bộ môn Ngữ Văn này, Dehoctot chia sẻ giúp bạn Kỹ năng viết văn nghị luận [Phần 1].+ Tùy theo nhiệm vụ, các đoạn văn được chia làm đoạn giới thiệu, đoạn nghị luận, đoạn minh họa, đoạn chuyên tiếp, đoạn tiểu kết, đoạn tổng kết.+ Cũng do nhiệm vụ khác nhau nên vị trí các đoạn khác nhau. Đoạn giới thiệu thường đứng ở đầu bài văn đoạn mở bài. Đoạn nghị luận, đoạn minh họa đứng giữa thân bài bài văn, giữa các phần của bài. Đoạn chuyển tiếp, đứng ở ranh giới giữa các phần của bài, của các đoạn kia. Đoạn tổng kết nằm ở cuối bài văn kết bài.Mỗi loại đoạn có một cấu tạo riêng với một mô hình cơ bản của những biến thể. Mô hình cơ bản của đoạn văn nghị luận là diễn dịch. Diễn dịch là đoạn có câu chứa nội dung thông tin chung, khái quát của cả đoạn thường là một luận điểm lớn hoặc nhỏ đứng ở vị trí đầu đoạn câu này gọi là câu chủ đề, các câu tiếp theo dẫn giải, triển khai nội dung của câu chủ đề. Câu chủ đề thông thường là một câu, song cũng có khi là hai hoặc ba câu. Về mặt cấu tạo ngữ pháp, câu chủ đề thường là câu đơn, có đủ chủ ngữ, vị cầu khi viết đoạn văn nghị luậnBước 1 Xác định các luận điểm, luận cứ thường gọi là ý chínhBước 2 Xác định câu chủ đềBước 3 Sử dụng phép liên kết và cách dùng từ trong đoạn văn nghị luậnTrong văn nghị luận muốn chuyển đoạn, liên kết đoạn người ta có thể dùng các quan hệ từ, dùng từ ngữ liệt kê,dùng từ ngữ thể hiện ý tổng kết… Ngoài ra còn sử dụng câu nối để liên kết đoạn cục của đoạn văn nghị luậnĐoạn văn nghị luận thường có 3 phần – Phần mở đoạn viết những câu dẫn dắt là những câu liên quan đến vấn đề chính sẽ nêu. – Phần giữa đoạn nêu vấn đề chính sẽ bàn trong thân bài tức là luận đề. Vấn đề chính này có thể đã chỉ rõ, có thể người viết tự rút ra, tự khái quát. – Phần kết đoạn nêu phương thức nghị luận và phạm vi tự luận sẽ trình bày. Phần này đề bài thường xác định sẵn. Người viết chỉ giới thiệu hoặc ghi lại đoạn trích, câu trích ở đầu dẫn cách mở bài cho bài nghị luậnCó 2 cách làm bài cơ bảnMở bài trực tiếpĐi thẳng vào vấn đề cần nghị luận, không câu nệ câu chữ, ý điểm thường nêu ra được vấn đề một cách trực tiếp nhất và rõ ràng nhất. Hạn chế không có cảm xúc,ít khi có được sự mềm mại, uyển chuyển, linh hoạt, khơi gợi mà một mở bài cần có và nên có. Mở bài như một lời mở đầu nếu không hấp dẫn người đọc thì sẽ không có hứng khởi để đọc tiếp phần tiếp bài gián tiếpBắt đầu từ một khía cạnh liên quan đến vấn đề cần nghị luận. Từ đó người viết dẫn dắt một cách khéo léo và có liên kết đến vấn đề chính mà đề bài yêu 4 cách mở bài theo lối gián tiếp Diễn dịch, quy nạp, tương liên, đối lập. Diễn dịch nêu những ý kiến khái quát về vấn đề đặt ra trong đề bài rồi mới bắt đầu vào vấn đề ấy. Quy nạp nêu những ý nhỏ hơn vấn đề đặt ra trong đề bài rồi mới tổng hợp lại vấn đề cần nghị luận. Tương liên nêu lên một ý giống như ý trong đề rồi bắt sang vấn đề cần nghị luận. Ý được nêu ra có thể là một câu tục ngữ, ca dao, danh ngôn, một nhận định hoặc chân lí phổ biến… Đối lập nêu những ý kiến trái ngược với ý trong đề bài rồi lấy đó làm cớ chuyển sang vấn đè cần nghị tắc làm mở bài+ Cần nêu đúng vấn đề đặt ra trong đề bài nếu đề bài yêu cầu giải thích, chứng minh, phân tích hay bình luận một ý kiến thì phải dẫn lại nguyên văn ý kiến đó trong phần mở bài. + Chỉ được phép nêu những ý khái quát, tuyệt đối không được lấn sang phần thân bài, giảng giải minh họa hay nhận xét ý kiến trong phần thân bài. + Để không tốn thời gian làm phần mở bài trong các kì thi, cần chuẩn bị sẵn một số hướng mở bài cho từng dạng dụ về mở bài Câu hỏi Phân tích hình tượng Đất Nước trong 9 câu thơ đầu trong đoạn trích Đất Nước Trường ca “ Mặt đường khát vọng” của Nguyễn Khoa cách mở bài+ Mở bài trực tiếp Nguyễn Khoa Điềm là nhà thơ trưởng thành trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ. Ông từng là Bộ trưởng Bộ văn hóa thông tin, nay đã nghỉ hưu. Các tác phẩm tiêu biểu Đất ngoại ô, trường ca Mặt đường khát vọng. Đất nước được trích từ chươngV trường ca Mặt đường khát vọng được hoàn thành ở chiến trường BìnhTrịThiên năm 1971, viết về sự thức tỉnh của tuổi trẻ miền Nam xuống đường tranh đấu hòa hợp với cuộc kháng chiến của dân tộc. Đoạn thơ sau đã để lại dấu ấn về nội dung và nghệ thuật sâu sắc nhất.+ Mở bài gián tiếpDiễn dịch Đất Nước từ lâu đã là nguồn cảm hứng bất tận của thơ ca nói riêng và nghệ thuật nói chung. Nếu như các nhà thơ cùng thời thường chọn điểm nhìn về Đất Nước bằng những hình ảnh kỳ vĩ, mỹ lệ hay cảm hứng về lịch sử qua các triều đại thì Nguyễn Khoa Điềm lại chọn điểm nhìn gần gũi, quen thuộc bình dị để miêu tả về Đất Nước. Đến với đoạn trích Đất Nước của Nguyễn Khoa Điềm ta như đứng trước muôn màu văn hóa, truyền thống, phong tục tươi đẹp vô ngần. Vẻ đẹp ấy được hiện lên sâu sắc nhất qua chín câu thơ nạp Có mối tình nào hơn Tổ quốc? Ngay trong những ngày đầu Cách mạng tháng Tám, nhà thơ Trần Mai Ninh đã viết say sưa như thế. Chất chứa trong lòng nhiệt huyết yêu nước, Nguyễn Khoa Điềm đã truyền lửa cho thế hệ trẻ những năm chống Mỹ bằng việc khắc họa vẻ đẹp bình dị và hào hùng của mảnh đất Việt. Đất Nước sinh thành từ những ngày xửa ngày xưa, từ miếng trầu bây giờ bà ăn lúc dân mình biết trồng tre mà đánh liên Chúng ta đã bắt gặp đất nước chìm trong đau thương, mất mát qua thơ Hoàng Cầm; gặp đất nước đang đổi mới từng ngày qua thơ Nguyễn Đình Thi, một quê hương với những kỉ niệm tuổi thơ qua thơ Giang Nam. Nhưng có lẽ đất nước được nhìn từ nhiều khía cạnh, đầy đủ và trọn vẹn nhất qua bài thơ Đất Nước của Nguyễn Khoa Điềm. Hình hài đất nước từ khi được sinh ra cho đến khi phải trải qua bao nhiêu sóng gió chiến tranh được tái diễn sinh động qua một hồn thơ tinh tế, phóng khoáng của Nguyễn Khoa Điềm. Tác giả nhìn đất nước từ nhiều khía cạnh, trải qua bao nhiêu thăng trầm của lịch sử. Đất nước là tên gọi thiêng liêng , bình dị nhưng chất chứa bao nhiêu ngọn nguồn cảm xúc của chính tác phần thân bài cho bài văn nghị luận Thân bài là phần dài nhất và quan trọng nhất của bài văn. Bản chất của thân bài là viết các đoạn văn nghị luận để triển khai các luận điểm luận cứ. Nên phân tích mỗi ý thành một đoạn , giữa các đoạn có sự lên kết chặt chẽ cùng hướng về nội dung mà đề yêu cầu có thể dùng câu hay đoạn liên kết.Cách triển khai phần thân bài– Nêu luận điểm 1 – luận cứ 1 – luận cứ 2,… Các luận điểm, luận cứ này chính là các ý 1,2,3…ý a, ýb,..mà các thầy cô đã giảng dạy trong bài học về tác phẩm ấy. Các em cần chỉ ra giá trị nội dung thứ nhất là gì, trong đó chứa đựng giá trị nghệ thuật gì?, giá trị tư tưởng tình cảm gì?,…– Nêu luận điểm 2 – luận cứ 1 – luận cứ 2,… Cần chỉ ra giá trị nội dung thứ 2, trong đó chứa đựng giá trị nghệ thuật gì, giá trị tư tưởng tình cảm gì? ,…– Luận điểm n– Nhận định chung khắc sâu các luận điểm so sánh và liên hệ thực tế. Mở rộng thêm ở các tác phẩm văn học và nêu hạn chế của nó nếu có.Những điều cần lưu ý khi viết thân bài– Thân bài là phần trọng tâm có nhiệm vụ + Phát triển những ý chính đã nêu ở phần mở bài . + Duy trì sự chú ý người đọc .Viết đoạn văn kết bàiĐoạn văn kết bài trong bài văn nghị luận thường nêu ý khái quát, có tính chất tổng kết, đánh giá. Dehoctot mách bạn bốn cách kết bài hiệu quả như sau Thứ nhất tóm lược tóm tắt quan điểm, nội dung đã nêu ở thân bài. Thứ hai phát triển mở rộng thêm vấn đề đặt ra trong đề bài. Thứ ba vận dụng nêu phương hướng, bài học áp dụng phát huy hay khắc phục vấn đề nêu trong bài văn Thứ tư liên tưởng mượn ý kiến tương tự – những ý kiến có uy tín – để thay cho lời tóm tắt của người làm bài.Lời kếtQua nội dung bài ở trên, chắc chắn bạn sẽ phần nào hình dung ra được bố cục, cách thức xây dựng ý tưởng và viết đoạn văn, bài văn nghị luận. Thực chất làm văn nghị luận không quá khó như các bạn nghĩ. Lưu ý là đầu xuôi, đuôi mới lọt; các bạn hãy rèn cho mình các kỹ năng diễn đạt và trình bày đoạn văn, đặc biệt là phần mở bài và câu mở đầu đoạn chúc bạn học tốt và thành công!

kỹ năng viết đoạn văn nghị luận